Quân chủng Hải quân, Quân đội Nhân dân Việt Nam còn gọi là Hải quân Nhân dân Việt Nam là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức, chỉ huy, quản lý, xây dựng quân đội bảo vệ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Cơ quan chỉ huy là Bộ Tư lệnh Hải quân. Hải quân Nhân dân Việt Nam có các binh chủng Hải quân đánh bộ, Tên lửa-Pháo bờ biển, Không quân Hải quân nhưng không tổ chức bộ tư lệnh riêng.
Hải quân Nhân dân Việt Nam có các cấp đơn vị: hải đoàn, hải đội tàu, binh đoàn Hải quân đánh bộ, các binh đoàn bộ đội chuyên môn, các đơn vị bảo đảm phục vụ (ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần...).
* Trụ sở Bộ Tư lệnh: Thành phố Hải Phòng
* Tư lệnh: Phó đô đốc Nguyễn Văn Hiến
* Chính ủy: Phó đô đốc Trần Thanh Huyền.
* Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng: Chuẩn đô đốc Phạm Ngọc Minh.
* Phó Tư lệnh: Chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo.
* Phó Tư lệnh: Chuẩn đô đốc Trần Đình Xuyên.
* Phó Chính ủy: Chuẩn đô đốc Nguyễn Cộng Hòa.
Hoạt động: ngày 7 tháng 5 năm 1955 -
Quốc gia: Việt Nam
Quy mô: 42000 sĩ quan và binh lính ( ? )
Lễ kỷ niệm: 5 tháng 8 năm 1964 - ngày đánh trả thành công chiến dịch Mũi Tên Xuyên, cuộc tập kích đầu tiên bằng không quân của Mỹ vào miền Bắc Việt Nam
Tham chiến: Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh biên giới Tây Nam
Tướng chỉ huy: Nguyễn Văn Hiến
TÀU NGẦM
1. Tàu Ngầm KyLo
Thông số kỹ thuật
Tàu gồm có sáu khoang kín được ngăn cách với nhau bằng những vách ngăn ngang trong lớp vỏ kép có áp suất. Thiết kế này và khả năng nổi tốt của nó làm cho nó vẫn có thể hoạt động được nếu bị thủng, thậm chí với một khoang và hai ngăn liền kề bị ngập nước.
Tàu có chiều dài là 72,6m, đường kính 9,9m, trọng lượng rẽ nước 2.350 tấn, 57 thủy thủ và có thể hoạt động liên tục 45 ngày trên biển. Tàu có thể lặn sâu tối đa 300m, tốc độ khoảng 22 km/h khi nổi và khoảng 40 km/h khi lặn. Tầm hoạt động là 12.000km khi có ống thông hơi và 640 km khi lặn.
Tàu được trang bị một hệ thống chiến đấu và điều khiển đa mục đích cung cấp thông tin để điều khiển và phóng ngư lôi một cách hiệu quả. Hệ thống máy tính tốc độ cao của hệ thống có thể xử lý thông tin từ từ các thiết bị trinh sát và hiển thị lên màn hình; xác định dữ liệu mục tiêu nổi và chìm và tính toán các tham số bắn; điều khiển bắn tự động; và cung cấp thông tin và các kế hoạch gợi ý về hoạt động và triển khai vũ khí.
Tên lửa
Tàu có một bệ phóng tám quả tên lửa biển đối không Igla hoặc Strela-3. Tên lửa Strela do Cục Thiết kế Fakel, Kaliningrad sản xuất (theo phiên bản tên lửa SA-N-8 Gremlin của NATO) có thiết bị dò tìm tia hồng ngoại nguội và đầu đạn nặng 2 kg. Tầm bắn tối đa là 6km. Tên lửa Igla (theo phiên bản SA-N-10 Gimlet của NATO) cũng được điền khiển bằng tia hồng ngoại nhưng nặng hơn, có tầm bắn tối đa 5 km và tốc độ gấp 1,65 lần tốc độ âm thanh (1.980 km/h).
Tàu ngầm lớp này có thể triển khai được hệ thống tên lửa hành trình Novator Club-S (SS-N-27), sử dụng tên lửa chống tàu 3M-54E1. Tầm bắn là 220km, đầu đạn chứa 450kg thuốc nổ có sức công phá lớn.
Tàu được trang bị sáu ống phóng ngư lôi 533 mm nằm ở phía mũi tàu ngầm và 18 quả ngư lôi. Các ống phóng ngư lôi này còn có thể triển khai được 24 quả thủy lôi. Hai ống phóng ngư lôi được thiết kế để bắn ngư lôi điều khiển từ xa có độ chính xác rất cao. Hệ thống ngư lôi do máy tính điều khiển giúp nạp đạn nhanh hơn. Loạt bắn đầu tiên được thực hiện trong 2 phút và loạt thứ hai trong 5 phút.
Bộ phận cảm biến
Tàu ngầm Loại 636 được trang bị hệ thống định vị siêu âm dưới nước kỹ thuật số MGK-400EM. Radar của tàu hoạt động theo chế độ sử dụng kính tiềm vọng và chế độ nổi, cung cấp thông tin về các tình huống dưới nước và trên không và định vị an toàn. Tàu còn được trang bị các thiết bị hỗ trợ điện tử, máy thu cảnh báo radar và máy định hướng bằng tín hiệu radio.
Hệ thống đẩy
Hệ thống đẩy của tàu bao gồm hai máy phát điện diesel, một động cơ đẩy chính, một động cơ tiết kiệm nhiên liệu, một bánh lái một trục và một chân vịt bảy cánh cố định.
Ngoài Việt Nam đặt mua 06 chiếc tàu ngầm loại 636, thì trong năm 2007, Indonesia đã đặt mua 2 chiếc và Venezuela đã ký bản ghi nhớ mua 3 chiếc. 28 chiếc khác đã được xuất khẩu sang Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Ba Lan, Ru-ma-ni và An-gê-ri.
2. Tàu Ngầm YuGo
Thông số kỹ thuật:
Số lượng: 2
Trọng tải (tấn): 90
Dài x Ngang x Sâu (m): 73,8x9,9x6,6
Động cơ: MTU (Diesel đơn trục)
Chân vịt: 1
Vận tốc (hải lý/giờ): nổi 10, lặn 4
Tầm hoạt động (dặm ở hải lý): ?
Thủy thủ đoàn: ?
Vũ khí: Ngư lôi 400 ly
Ghi chú : Có nguồn tin cho rằng Yugo sẽ không còn được sử dụng từ năm 2010
---------- Post added 20-06-2010 at 12:40 AM ---------- Previous post was 19-06-2010 at 11:08 PM ----------
Hải quân Việt Nam hiện nay được cho là có khoảng 50 chiến hạm cỡ nhỏ với trang bị lạc hậu và khoảng vài trăm tàu xuồng chiến đấu trên sông. Các chiến hạm chủ yếu được chuyển giao từ Liên Xô cũ và một phần là chiến lợi phẩm từ hải quân Ngụy. Hiện nay Việt Nam đã tự đóng được vài chiến hạm nhỏ. Với mục tiêu từng bước hiện đại hóa hải quân, Việt Nam đã mua vài chiếc khu trục hạm lớp Gepard.
Dưới đây là một số chiến hạm đang sử dụng trong lực lượng HQNDVN :
TÀU KHU TRỤC NHỎ
1. Gepard
Thông số kỹ thuật:
Số lượng: 2
Thủy thủ đoàn: 103
Kích thước: dài 102m, rộng 13,1m và phần chìm 5,3m
Trọng lượng rẽ nước: 2.100 tấn
Hoạt động liên tục 20 ngày trong phạm vi 5.000 hải lý (ở tốc độ 10 knot)
Tốc độ tối đa: 28 knot (52km/h)
Công suất: 22.000 mã lực
Trang bị
Bãi đỗ cho một trực thăng loại Ka-28 hoặc Ka-31
16 quả tên lửa điều khiển chống tàu chiến 4x4 Uran/3M24
Một pháo 76mm AK-176M
Ba hệ thống Palma
Hai súng máy 14,5mm
Hai ống phóng ngư lôi 533mm
Một hệ thống 12 ống phóng tên lửa chống tàu ngầm RBU-6000.
Dài 102m, trọng tải 1,900 tấn, tốc độ 26 knots, trang bị 8 hỏa tiễn SSN-25, có từ một tới ba đai bác 76 ly, bốn ống phóng thủy lôi và có khả năng tránh radar sẽ là một đối thủ đáng gờm cho các hạm đội các nước khác trong khu vực).
Ngày 29 Tháng Mười Một, đài BBC dẫn các nguồn tin trên báo chí Nga cho biết, Việt Nam đã đặt xưởng đóng tàu Zelenodollsk ở Tatarstan (chuyên đóng tàu cho hạm đội biển Caspi), đóng tàu tuần duyên loại Gepard. Tàu tuần duyên loại Gepard dài 102m, trọng tải 1,900 tấn, tốc độ 26 knots, trang bị 8 hỏa tiễn SSN-25, có từ một tới ba đai bác 76 ly, bốn ống phóng thủy lôi và có khả năng tránh radar.
Ruslan Fatkhutdinov – một phóng viên của đài truyền hình Russian Zvezda đã đến tận nơi để quan sát 80 công nhân đang đóng chiếc tàu thứ hai. Theo phóng viên, các đơn đặt hàng từ Ðông Nam Á đã giúp công nhân xưởng đóng tàu Zelenodolsk có việc làm.
BBC cho biết, cuối năm ngoái, hải quân Việt Nam đã mua một chiếc tàu tuần duyên loại Molniya của KSMK – một xưởng đóng tàu khác ở Nga. Molniya được trang bị hỏa tiễn Uran-E. Năm nay, KSMK sẽ giao thêm một chiếc Molniya nữa. Sau đó, 20 chiếc còn lại sẽ được phía Nga chuyển giao kỹ thuật để đóng tại Việt Nam.
Vào thời điểm đó, ông Mikhail Dmitriev, giám đốc cơ quan liên bang về hợp tác quân sự và kỹ thuật với nước ngoài cho hãng thông tấn Nga Itar-Tass biết: Thỏa thuận bán phương tiện quân sự giữa Nga và Việt Nam có giá trị khoảng $1 tỉ USD, không giới hạn thời gian. Lúc đó, ông Mikhail Dmitriev đã tiết lộ sẽ bán cho Việt Nam hai chiếc tàu tuần duyên loại Gepard, trang bị hỏa tiễn nhỏ hơn cho Việt Nam vì: “Việt Nam là đối tác chiến lược của Liên Bang Nga trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự và Việt Nam là một trong 10 nước đầu tiên mà Nga có sự hợp tác ở qui mô lớn nhất”.
Cũng theo BBC, ông Anatoliy Nikitin – chủ nhiệm một phân xưởng của xưởng đóng tàu Zelenodolsk thì nhờ những hợp đồng này mà kỹ sư và công nhân được nhận đủ lương và nhận lương đúng hạn.
Hộ tống hạm “Tartarstan” loại Gepard của Nga
Chiếc tàu duyên hải loại Gepard đầu tiên đã đóng được 20% và theo dự kiến sẽ có mặt tại biển Ðông vào giữa năm 2009. Còn chiếc thứ nhì thì sẽ hạ thủy vào năm 2010. Trong một tin phát trên đài truyền hình Russian Zvezda, hải quân Việt Nam đã gửi lời cám ơn nhân viên xưởng đóng tàu Zelenodolsk.
Ông Sergey Ilin – giám đốc xưởng đóng tàu Zelenodolsk – kể với đài truyền hình Zvezda rằng, để nhận được hợp đòng đóng tàu chiến cho Việt Nam, ông đã bay sang Hà Nội tám lần. Tuy không cho biết tổng giá trị hợp đồng là bao nhiêu và Việt Nam sẽ đặt đóng bao nhiêu tàu nhưng tin của Russian Zvezda TV cho biết, xưởng đóng tàu Zelenodolsk có việc làm cho đến năm 2012.
BBC nhận định, trước đây, Việt Nam vừa mua, vừa nhận viện trợ quân sự từ Liên Xô. Sự hợp tác trong lĩnh vực quân sự chỉ suy giảm sau khi Liên Xô tan rã, Nga quyết định rút tàu chiến khỏi vịnh Cam Ranh vào năm 2002. Nay, trong bối cảnh mới, Việt Nam cũng như nhiều nước Ðông Nam Á đang trở lại Ðông Âu và khu vực thuộc Liên Xô cũ để mua vũ khí.
Hồi Tháng Hai năm nay, BBC đã từng đưa tin Nga thiết lập hai trung tâm bảo trì vũ khí do họ sản xuất, một tại Việt Nam và một tại Trung Quốc. Trước đó, Nga đã thiết lập một trung tâm như vậy tại Ethiopia và dự trù sẽ mở thêm những trung tâm tương tự ở Jordan và Algeria.
TÀU HỘ TỐNG NHỎ 1.Tàu hộ tống lớp Petya-II
Độ giãn nước: 1,077 tấn
Kích thước: 81.8 x 9.2 x 2.85 mét
Sức đẩy: 3 trục; 6,000 bhp; 2 động cơ đẩy gas turbines 30,000 shp; 29 hải lý/giờ
Thủy thủ đoàn: 92
Radar: Fut-N/Strut Curve 2-D
Vũ khí: 2 tháp pháo với súng 2 nòng 76.2mm, 2 ống phóng ngư lôi 15.8 inch, 2
giàn phóng rócket RBU-6000 ASW RL
Nguồn gốc: Khu trục hạm cỡ nhỏ của Liên Xô, chuyển giao cho Việt Nam.
Nơi sản xuất: Yantar Zavod, Kaliningrad, Russia.
2. Tàu tuần tiễu lớp Petya-III 
Độ giãn nước: 1,040 tấn
Kích thước: 81.8 x 9.2 x 2.72 mét
Sức đẩy: 3 trục; 1 cruise diesel, 6,000 bhp; 2 boost gas turbines, 30,000 shp;
29 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 92
Radar: Fut-N/Strut Curve 2-D air search
Sonar: Titan hull mounted MF
EW: Bizan-4B suite with Watch Dog intercept
Vũ khí: 2 tháp pháo với súng 2 nòng 76.2mm, 3 ống phóng ngư lôi 15.8 inch, 4
giàn phóng rócket RBU-6000 ASW RL
Nguồn gốc: tàu tuần tiễu xuất khẩu của Nga, Việt Nam nhận năm 1978. Việt Nam
hiện có 2 chiếc HQ-09, HQ-11.
Petya là tàu khu trục cỡ nhỏ do Liên Xô chế tạo với chức năng chính là tuần tra bờ biển và chống tàu ngầm. Tổng cộng có khoảng 45 chiếc được chế tạo và sử dụng tại Liên Xô, trong đó có 18 Petya-I, 27 chiếc Petya-II. Phiên bản Petya-III dành cho xuất khẩu.
Việt Nam nhận 3 chiếc Petya-II đã qua sử dụng của Liên Xô và sau đó là 2 chiếc Petya-III vào năm 1978
Petya được thiết kế theo kiểu cổ điển từ thời chiến tranh thế giới thứ 2, mặc dù thời điểm nó sinh ra là vào thập niên 60, có lẽ do Petya không phải là lực lượng chiến đấu xung kích trong hải quân Xo Viết. Nhiệm vụ chính của Petya là tuần tra bờ biển và chống tàu ngầm. Tuy nhiên khả năng chống ngầm của Petya cũng còn hạn chế.
Vũ khí
Petya-III có 2 tháp pháo với đại bác đôi 76,2 mm AK-726 với tầm bắn thẳng mục tiêu trên biển xa 8.2 km. AK-726 được điểu khiển bằng hệ thống tự động Fut-B có thể bắn hạ máy bay có tốc độ bay từ 350 – 650 m/s, ở độ cao từ 500 – 6000 m. Tầm bắn tối đa là 18,3 km. Tốc độ bắn là 45 viên trong 1 phút. Tuy nhiên đây là hệ thống pháo khá cũ được sản xuất vào các năm 1958 – 1964, cho nên có nhiều hạn chế về tầm bắn cũng như độ chính xác.
Petya-III còn có 2 dàn Rocket RBU-6000 chống ngầm với 12 ống phóng mỗi dàn, sử dụng rocket cỡ 213 mm RGB-60 không điều khiển có khả năng bắn xuống mặt nước sâu từ 10-500m với tốc độ 11,5 m/s, tầm xa từ 350 – 5800 m. RBU-6000 được điều khiển bởi hệ thống Burya, ngoài nhiệm vụ chính là chống tàu ngầm và tàu chiến khác, RBU-6000 còn dùng để oanh kích các mục tiêu bờ biển. Ngoài ra Petya-III còn có 10 trái ngư lôi cỡ 400 mm
Khả năng phòng thủ cũng như chiến đấu của Petya rất hạn chế vì tất cả hỏa lực của nó điều là hỏa lực trực tiếp có tầm xạ kích hiệu quả dưới 10 km, trong khi đó các tàu chiến hiện tại đều dùng hỏa tiễn hải đối hải với tầm bắn lên đến hàng trăm km. Tốc độ của Petya khá chậm 29 hải lý/giờ. Tuy nhiên với điều kiện kinh phí cho hải quân còn thấp, Việt Nam vẫn duy trì hạm đội Petya, nhưng với chức năng phòng thủ các cảng sông mà thôi.
3. Tàu hỏa tiễn cỡ nhỏ lớp BPS 500

Độ giãn nước: 517 tấn
Kích thước: 62 x 11 x 2.5 mét/203.4 x 36 x 8.2 feet
Sức đẩy: 2 động cơ diesel, 2 waterjets, 19,600 bhp, 32 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 28
Radar: Positiv-E/Cross Dome air/surf search
EW: 2 PK-16 decoy
Vũ khí: 8 hỏa tiễn Kh-35 Uran SSM, 1 đại bác 76.2mm, 1 súng phòng không 30 mm,
2 súng 12.7 mm MG
Nguồn gốc: Nga thiết kế, được đóng tại Việt Nam
4. Tàu tên lửa Tarantul I
Tàu phóng tên lửa lớp Tarantul I (Molniya) đã có mặt tại Việt Nam vào năm 1999. Và Việt Nam mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Hiện Việt Nam có khoảng 4 chiếc Tarantul 1, và 2 chiếc Tarantul thế hệ mới thuộc project 1412.8. Trong tương lai sẽ đóng thêm 20 chiếc Tarantul nữa
Tàu chiến Tarantul dùng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Tàu Tarantul trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại và các khí tài tiên tiến, có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội.
- Tàu tên lửa Tarantul được phát triển theo dự án số 12421 của Nga, bao gồm: Tàu chiến đấu, tàu bổ trợ và tàu tuần tra tại các vùng cửa biển, ven bờ. Tàu tên lửa Tarantul trang bị đầy đủ các thiết bị trinh sát và truyền tin, các hệ thống ra-đa trinh sát và kiểm soát xạ kích. Ra-đa có tầm bao quát toàn bộ vùng tác chiến trong tầm bắn của tên lửa, bám tín hiệu 15 mục tiêu và khoá tới 6 mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử. Hệ thống ra-đa kiểm soát bắn của pháo và tên lửa trên tàu có khả năng phát hiện các mục tiêu trên không, trên biển, tự động dò tìm các tín hiệu đặc trưng của mục tiêu và xử lý các tín hiệu đó chuyển thành dữ liệu tác xạ trên máy tính.
* Vũ khí chính trang bị trên tàu Tarantul gồm:
- Trang bị hệ thống tên lửa đối hạm với giàn phóng tên lửa U-ran phóng tên lửa hành trình Kh-35 sắp xếp thành hai hàng, mỗi hàng 8 ống phóng (16 tên lửa). Tên lửa hành trình Kh-35 dẫn bằng ra-đa chủ động giai đoạn cuối. Trên hành trình bay, tên lửa bay cách mặt nước 15 mét, ở giai đoạn cuối chúng hạ thấp độ cao và tiêu diệt mục tiêu chỉ ở độ cao từ 3 mét đến 5 mét. Tên lửa Kh-35 có cự ly tác chiến 130km, tốc độ tối đa khoảng 300 m/s, đầu nổ HE nặng 145 kg
- Hoặc tên lửa hành trình đối hạm Moskit – SS-N-22 với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 90 – 120 km, tốc độ siêu âm. Tầm bắn tối đa 250km, tốc độ mach 3, trần bay cách mặt nước biển 20m, đầu nổ 320 kg
- Hoặc tên lửa hành trình đối hạm P-15 Termit “SS-N-2C” với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 80 km, tốc độ March 0.9.
- 12 tên lửa phòng không Igla-1M;
- 1 pháo hạm 76mm AK-176M (với 316 viên đạn), tầm xa 15 km
- Hai pháo phòng không 30mm AK-630M.
Hệ thống ra-đa trên tàu có: Ra-đa trinh sát băng HF, UHF, ra-đa nhận biết mục tiêu không-biển, ra-đa điều khiển, kiểm soát xạ kích cho tên lửa. 2 hệ thống phóng mồi bẫy và mồi bẫy nhiệt PK-10 cỡ 120 mm hoặc PK – 16 dùng để chống ra-đa và hệ thống trinh sát quang học của các hệ thống vũ khí của đối phương. Đạn mồi bẫy PK-16 cỡ 82mm, tầm hoạt động từ 200 mét đến 1800 mét.
Tàu tên lửa Tarantul có lượng giãn nước 550 tấn, trang bị máy chính 2 trục, động cơ tua-bin khí 32.000 sức ngựa, 3 động cơ Diesel, công suất 500kW mỗi động cơ. Tàu có tầm hoạt động 2400 hải lý, hoạt động liên tục trong thời gian 10 ngày. Toàn bộ thuỷ thủ đoàn trên tàu 44 người. Tàu còn trang bị các thiết bị điều hoà không khí, hệ thống thông gió tiên tiến nhất, bảo đảm cho tàu hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết.
Việt Nam đã mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Sẽ có khoảng 20 chiếc sẽ ra đời tại Việt Nam
Theo một số nguồn tin nước ngoài, 2 tàu Tarantul thế hệ mới cũng đã có mặt tại Việt Nam . Đây chính là 2 tàu đầu tiên thuộc Project 1241.8 “Thần Sấm”. Loại này có tầm hoạt động và hệ thống vũ khí tấn công hơn hẳn Tarantul 1. 2 chiếc này nằm trong hợp đồng mua 12 chiếc Taratul Project 1241.8 mà VN đã ký với Nga. Số còn lại sẽ do VN tự đóng theo công nghệ được chuyển giao .
Theo một số chuyên gia nước ngoài phân tích, Với 2 chiếc Gepard (sẽ về Việt Nam cuối năm 2009) và trên 20 Tarantul hải quân Việt Nam sẽ tiến tới thành lập hạm đội biển Đông với trên dưới 30 chiến hạm hiện đại.
Thông số kỹ thuật:
- Trang bị hệ thống tên lửa chống tàu với giàn phóng tên lửa U-ran phóng tên lửa hành trình Kh-35 sắp xếp thành hai hàng, mỗi hàng 8 ống phóng (16 tên lửa). Tên lửa hành trình Kh-35 dẫn bằng ra-đa chủ động giai đoạn cuối. Trên hành trình bay, tên lửa bay cách mặt nước 15 mét, ở giai đoạn cuối chúng hạ thấp độ cao và tiêu diệt mục tiêu chỉ ở độ cao từ 3 mét đến 5 mét. Tên lửa Kh-35 có cự ly tác chiến 130km, tốc độ tối đa khoảng 300 m/s, đầu nổ HE nặng 145 kg
- Hoặc tên lửa hành trình chống tàu Moskit _ SS-N-22 với 2 giàn phóng (2 tên lửa/giàn), tầm xa 90 – 120 km, tốc độ siêu âm _ Moskit: Tầm bắn tối đa 250km, tốc độ mach 3, trần bay cách mặt nước biển 20m, đầu nổ 320 kg
- 12 tên lửa phòng không Igla-1M;
- 1 pháo tàu 76mm AK-176M ( Cơ số 316 viên đạn pháo ), tầm xa 15 km
- hai pháo phòng không 30mm AK-630M.
Hệ thống ra-đa trên tàu có: Ra-đa trinh sát băng HF, UHF, ra-đa nhận biết mục tiêu không-biển, ra-đa điều khiển, kiểm soát bắn cho tên lửa. 2 hệ thống phóng mồi bẫy và mồi bẫy nhiệt PK-10 cỡ 120 mm hoặc PK – 16 dùng để chống ra-đa và hệ thống trinh sát quang học của các hệ thống vũ khí của đối phương. Đạn mồi bẫy PK-16 cỡ 82mm, tầm hoạt động từ 200 mét đến 1800 mét..
Tàu tên lửa Môn-ni-y-a có lượng giãn nước 550 tấn, trang bị máy chính 2 trục, động cơ tua-bin khí 32.000 sức ngựa, 3 động cơ đi-ê-den, công suất 500kW mỗi động cơ. Tàu có tầm hoạt động 2400 hải lý, hoạt động liên tục trong thời gian 10 ngày. Toàn bộ thuỷ thủ đoàn trên tàu 44 người. Tàu còn trang bị các thiết bị điều hoà không khí, hệ thống thông gió tiên tiến nhất, bảo đảm cho tàu hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết.
TÀU TUẦN TRA
6. Tàu tên lửa lớp Osa-II
Độ giãn nước: 226 tấn
Kích thước: 38.6 x 7.6 x 2 mét
Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 15,000 bhp, 35 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 28
Vũ khí: 4 hỏa tiễn SS-N-2B Styx SSM, 2 dual 30 mm
Nguồn gốc: Liên xô sản xuất, 8 chiếc được giao trong năm 1979-81.
Tàu Osa là lọai tàu tấn công cao tốc do Liên xô phát triển vào đầu thập niên 1960 theo các dự án 250 (Osa 1) và 250U (Osa 2). Đây là lọai tàu chiến được sản xuất với số lượng nhiều nhất, trên 400 chiếc được xuất xưởng.
Chữ Osa có nghĩa là Ong bắp cày, nó mang tên này do đặc điểm chiến đấu của mình. Việt Nam hiện có khỏang 8 chiếc Osa 2 vẫn còn họat động tốt.
Tàu Osa đựơc phát triển nhằm thay thế loại tàu tấn công “Komar” – Loại chiến hạm mini đầu tiên trên thế giới có trang bị hỏa tiễn đối hạm, có khả năng đánh chìm một chiến hạm to hơn nó gấp nhiều lần. Thân tàu Osa được làm bằng hợp kim nhẹ với cấu trúc đặc biệt cùng với 3 động cơ công suất 12000 mã lực và 3 chân vịt, điều này giúp Osa đạt được tốc độ 40 hải lý/giờ
Vũ khí chính là 4 hỏa tiễn P-15 / SS-N2 được điều khiển bằng ra đa có khả năng đánh chìm 1 chiến hạm to lớn gấp 10 lần Osa ở khỏang cách hơn 80 km. Theo lý thuyết cần 6 Osa để đánh chìm một khu trục hạm 20.000 tấn. Vũ khí phụ của Osa là 4 đại bác 30mm AK-230, chủ yếu đề phòng không hơn là chiến đấu với tàu chiến khác.
Chiến thuật chủ yếu của Osa là “đánh và chạy”, lợi dụng tốc độ cao của mình Osa bất ngờ tiếp cận đối thủ và phóng tên lửa sau đó chạy thật nhanh trước khi tàu địch kịp phản ứng, nếu có máy bay địch truy kích thì dùng 4 súng phòng không để chống trả. Chiến thuật này có phần giống các tàu phóng lôi, nhưng khác ở cự ly tiếp cận là vài chục km và vũ khí là hỏa tiễn có tốc độ nhanh hơn nhiều so với ngư lôi.
Osa đã tham chiến nhiều trận, trong đó Osa chịu nhiều tổn thất trong cuộc chiến tranh Iraq-Iran 1980. Điểm yếu chính là hệ thống điều khiển tên lửa và khả năng tự vệ không cao. Tuy nhiên với khối lượng chỉ 200 tấn và tốc độ cao cùng với 4 hỏa tiễn chết người, Osa vẫn là một đối thủ đáng gờm, đặc biệt khi hành quân với số lượng lớn.
Ngày nay, Osa vẫn là vũ khí chính của hải quân ở những nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy vậy Tarantul vẫn là lựa chọn số một dành cho dòng tàu cao tốc mang tên lửa.
7. Tàu phóng lôi lớp Turya
Độ giãn nước: 250 tấn
Kích thước: 39.6 x 7.6 x 2 mét
Kích thước: 39.6 x 9.6 x 4 mét
Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 15,000 bhp, 37 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 26
Sonar: Rat Tail dipping
Vũ khí: 1 tháp pháo gắn súng 2 nòng 57mm/70cal AA, 1 súng 2 nòng 25 mm, 4 ống phóng ngư lôi 21 inch
Nguồn gốc: Liên Xô sản xuất giao năm 1984.
Nơi sản xuất: Vladivostokskiy Sudostroitel’niy Zavod, Vladivostok, Russia.

]
8. SO 1 class patrol boats
Độ giãn nước: 213 tấn
Kích thước: 41.9 x 6.1 x 1.8 mét
Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 6,000 bhp, 28 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 33
Vũ khí: 2 súng 2 nòng 25 mm, 4 hỏa tiễn RBU-1200 ASW RL, 18 mìn
10. Tàu phóng lôi lớp Shershen
Độ giãn nước: 161 tấn
Kích thước: 34.60 x 6.74 x 1.72 mét
Sức đẩy: 3 động cơ diesel, 3 trục, 12,000 bhp, 42 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 22
Vũ khí: 2 dual 30 mm, 4 21 inch torpedo tubes, mines
Nguồn gốc: Liên Xô sản xuất giao năm 1979-1983.
11. Khu trục hạm Phạm Ngũ Lão
Độ giãn nước: approx. 2,800 tấn full load 2800 tấn
Kích thước: 94.7 x 12.5 x 4.1 mét
Sức đẩy: 4 động cơ diesel, 2 trục, 6000 bhp, 18 hải lý/ giờ nominal
Thủy thủ đoàn: 200
Vũ khí: 3 37 mm, 2 dual 25 mm, 2 SA-N-5 SAM, 2 cối 81 mm
Nguồn gốc: Đây là khu trục hạm chiến lợi phẩm thu được của hải quân ngụy, ban
đầu thuộc lực lượng tuần duyên Hoa kỳ sau đó chuyển giao do hải quân Nam Việt
Nam. Vũ khí trên tàu đã được thay thế bằng vũ khí của Liên Xô
Nơi sản xuất: Lake Washington SY, Houghton, WA.
12. Svetlyak
Thông số kỹ thuật:
Độ giãn nước: 375 tấn
Kích thước: 49.5 x 9.2 x 2.16 mét
Sức đẩy: 3 trục; 3 cruise diesel x 4.700 bhp ;
Vận tốc : tối đa 30 hải lý/ giờ
Tầm họat động : 2200 hải lý với vận tốc trung bình 13 hải lý / giờ
Thủy thủ đoàn: 28
Vũ khí: 1 đại bác 76.2mm, 1 súng phòng không 30 mm, 2 súng 12.7 mm MG
Mồi bẫy : 1x4 P3RK
---------- Post added at 12:48 AM ---------- Previous post was at 12:40 AM ----------
TÀU QUÉT MÌN
1. Yurka
Các thông số kỹ thuật:
Độ giãn nước: 560 tấn full load
Kích thước: 52.1 x 9.6 x 2.65 mét/171 x 31.5 x 8.7 feet
Sức đẩy: 2 động cơ diesel, 2 trục, 5,000 bhp, 16 hải lý/ giờ
Thủy thủ đoàn: 46 người
Sonar: MG-69 Lan’ mine avoidance
Vũ khí: 2 dual 30 mm, 10 mines
2. Sonya
Các thông số kỹ thuật:
Kiểu tàu: Thả mìn ven bờ
Độ giãn nước: 400 tons standard, 450 tons full load
Kích thước: 48.8m x 8.8m x 2.1m
Động cơ: 2 shaft diesel engines 2400 hp
Tốc độ: 15 knots (28 km/h)
Tầm hoạt động: 3,000 nautical miles (5,556.0 km) at 10 knots (19 km/h)
Thời gian: 10 days
Thuỷ thủ đoàn: 43 người
Hệ thống Sensors: radar: Spin Trough Sonar; MG-89
Hệ thống vũ khí: 2 - 30mm guns (1x2), 2 x 25mm guns (1x2), Dàn thả mìn GKT, PEMT-2, ST-2
3. Yevgenya 
Các thông số kỹ thuật:
Kiểu tàu: Thả mìn ven bờ
Độ giãn nước: 88.5 tons standard, 94 tons full load
Kích thước: 26.13m x 5.9m x 1.3m
Động cơ: 2 shaft diesel engines 850 hp
Tốc độ: 12 knots (22 km/h)
Tầm hoạt động: 300 nautical miles (555.6 km) at 10 knots (19 km/h)
Thời gian: 10 days
Thuỷ thủ đoàn: 10 người
Hệ thống Sensors: MG-7 sonar
Hệ thống vũ khí: 2 x 14.5 mm MG, Dàn thả mìn: MT34, SEMT-1, AT-2, Neva, GKT-3
TÀU TUẦN TRA BIÊN PHÒNG ST-112
TÀU ĐỔ BỘ TRUNG ĐỘI ST-1200
XUỒNG ĐỔ BỘ TIỂU ĐỘI ST-650
Bài trên được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau.
P/s: Mong mọi người reply lịch sự. Đừng đem chuyện chính trị vào đây nha. Nhờ Mod xóa dúmmâyy reply có liên quan đến chính trị. Mình post chỉ muốn mọi người biết thêm thôi.Tks mọi người
Xem Thêm :