Theo như nhóm bảo mật từ Microsoft, những người dùng phiên bản 64-bit của hệ điều hành ít bị tấn công bởi mã độc hơn phiên bản 32-bit. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Windows 64-bit tránh được hoàn toàn những hiểm họa trên. Joe Faulhaber, thành viên của Microsoft Malware Protection Center, cho biết:
"Trong nửa đầu năm 2009, số lượng những thông tin về nhiễm malware trên Windows 64-bit thấp nhất so với các phiên bản khác. Những malware thuần 64-bit đang rất hiếm."
Faulhaber cũng đã trích dẫn những số liệu từ MSRC (Microsoft’s Malicious Software Removal Tool), một công cụ nhận diện và tiêu diệt mã độc được cập nhật hàng tháng. Theo như những dữ liệu này trong nửa đầu năm 2009, Windows XP 64-bit nhiễm mã độc ít hơn 48% so với phiên bản 32-bit. Trong khi đó Vista 64-bit ít hơn một lượng tương ứng 35%. Số lượng người dùng Windows XP 64-bit có thể ít nhưng lượng người dùng Vista 64-bit không hề thua kém so với bản 32-bit.
Trong số liệu trên, Windows 7 không xuất hiện do thời điểm đó hệ điều hành mới của Microsoft chưa được phát hành chính thức. Faulhaber cho biết Windows 7 64-bit có lợi thế hơn cả so với các phiên bản khác về tính bảo mật. Hầu hết các PC đi kèm Windows 7 đều sử dụng phiên bản 64-bit.
Hiện tại, Windows 64-bit tỏ ra an toàn hơn. Những malware được viết cho Windows 32-bit sẽ phần nào bỡ ngỡ với 64-bit. Tuy nhiên, Alfred Huger, người đã từng làm việc tại Symantec, cho biết:
"Hiện đã có rất nhiều malware 64-bit. Những malware 32-bit có thể chạy ở chế độ tương thích hoặc tác giả có thể biên dịch ở chế độ 64-bit. Lý do mà họ không làm như vậy là hiện tại chưa có nhiều máy sử dụng hệ điều hành 64-bit. Những malware 64-bit vẫn tồn tại, một số trong chúng là malware cho Mac OS. Tuy nhiên, hiện tại 64-bit không phải là đối tượng mà nhiều người nhắm đến như 32-bit."
Huger cũng cho biết thêm :
"Chúng ta sẽ không bao giờ thấy chỉ một loại malware tồn tại trên máy tính. Hầu như luôn có 8, 10 hoặc một tá malware xuất hiện cùng lúc. Hầu hết malware có mặt là do bạn đã đặt chúng ở đó. Một trong những kiểu tấn công quen thuộc là bạn tải về một cái bẫy và kéo theo đó là nhiều loại malware khác. Cái bẫy này có thể dễ dàng xác định phiên bản hệ điều hành bạn đang sử dụng là 64-bit do đó sẽ kéo theo malware 64-bit vào máy của bạn."
Cuối cùng Huger cho rằng malware cũng là một phần mềm, do đó nó có thể dễ dàng trên hệ thống 64-bit như bất cứ phần mềm thông thường nào khác.
Tuy nhiên, Faulhaber lại có những ý kiến trái ngược khi cho rằng Windows 64-bit được thiết kế an toàn hơn so với phiên bản 32-bit. Một ví dụ là PatchGuard giúp cho malware khó khăn hơn trong việc xâm nhập vào hệ thống và chỉ tồn tại trong phiên bản 64-bit của Windows XP và Vista. Faulhaber cũng đề cập đến WOW64 (Windows On Windows 64), chế độ giả lập nhẹ cho phép Windows 64-bit sử dụng các ứng dụng 32-bit. Điều này cũng giúp malware thông thường khó ảnh hưởng đến hệ thống 64-bit.
Faulhaber cho rằng:
"Tỉ lệ nhiễm malware trên các phiên bản 64-bit của Windows XP và Vista thấp hơn phiên bản 32-bit, sự khác biệt một phần là do sự thông thạo về kỹ thuật của người dùng 64-bit so với 32-bit. Sự khác biệt này sẽ dần mất đi khi Windows 64-bit dần dần đến với mọi người nói chung. Tuy vậy phiên bản 64-bit vẫn cần sử dụng những phần mềm chống malware như Microsoft Security Essentials để bảo vệ máy tính."
Vì vậy, dù phiên bản 64-bit an toàn hơn, dù bạn đang dùng hệ điều hành mới nhất Windows 7, bạn vẫn cần chuẩn bị những phương án khác để bảo vệ máy tính khỏi mã độc.
Xem Thêm :