+ Trả Lời Ðề Tài + Gởi Ðề Tài Mới
kết quả từ 1 tới 3 trên 3
  1. #1
    Lonelyplanet's Avatar
    Lonelyplanet is offline Thành Viên Chăm Chỉ
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài gởi
    264
    Thanks
    123
    Thanked 434 Times in 168 Posts

    Binh chủng Tăng-Thiết giáp, Quân đội Nhân dân Việt Nam


    Download miễn phí : Link trực tiếp | Mediafire | Mega1280 | Rapidshare | Megaupload | Hotfile

    Binh chủng Tăng - Thiết giáp Quân đội Nhân dân Việt Nam là một binh chủng tác chiến thuộc Quân chủng Lục quân, được trang bị các loại xe tăng, xe thiết giáp, với hỏa lực mạnh, sức cơ động cao.

    Trụ sở Bộ Tư lệnh: Đường Phạm Văn Đồng, Huyện Từ Liêm, Hà Nội


    * Tư lệnh: Thiếu tướng Vũ Bá Đăng


    Ngày 5 tháng 10 năm 1959, trung đoàn xe tăng đầu tiên, Trung đoàn 202, trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh, được thành lập. Ngày này nay đã trở thành ngày truyền thống của Binh chủng Tăng - Thiết giáp.


    Ngày 22 tháng 6 năm 1965, Bộ Tư lệnh Thiết giáp (sau đổi thành Bộ Tư lệnh Tăng Thiết giáp)được thành lập, đánh dấu sự ra đời của một binh chủng mới trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, đồng thời thành lập trung đoàn xe tăng 203. Quyền Tư lệnh đầu tiên: Đào Huy Vũ (1965-1970), Chính ủy đầu tiên: Lê Ngọc Quang. Từ năm 1971 trở đi lần lượt ra đời các đơn vị xe tăng trực thuộc binh chủng và trực thuộc các quân khu, quân đoàn.


    Tháng 02 năm 1968 bộ đội xe tăng lần đầu tiên tham chiến tại Tà Mây- Làng Vây (Đường Chín- Khe Sanh). Trong kháng chiến chống Mỹ xe tăng đã tham gia chiến đấu hơn 200 trận, đặc biệt đã dẫn đầu 5 cánh quân giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Đại đội trưởng đâị đội xe tăng 4 Bùi Quang Thận đã cắm lá cờ chiến thắng trên nóc Dinh Độc Lập. Chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng là người thay mặt Quân giải phóng tiếp nhận sự đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày 20 tháng 10 năm 1976 Binh chủng Tăng Thiết giáp được Quốc hội và Chính phủ tuyên dương Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang.


    Truyền thống của Binh chủng là "Đã ra quân là đánh thắng".



    Trang thiết bị


    Binh chủng Tăng - Thiết giáp được trang bị các loại xe chiến đấu sau :


    * Xe tăng chủ lực (MBT) T-54/55, T-62 của Liên Xô; T-59 (Type-59) của Trung Quốc. Vào năm 2005, Việt Nam đặt mua 150 chiếc T-72 của Ba Lan.

    * Xe tăng lội nước PT-76 của Nga; PT-85 hay K-63-85 (Type-63) của Trung Quốc.
    * Xe thiết giáp chiến đấu của bộ binh BMP-1/2 của Nga.
    * Xe thiết giáp trinh sát BRDM-1/2 của Nga.
    * Xe thiết giáp chở quân BTR-40/50/60/152 của Nga; M-113/-114 của Mỹ; K-63 (Type-63) của Trung Quốc.


    XE TĂNG CHỦ LỰC



    T-62


    T-62 là thế hệ kế tiếp của xe tăng T-54/55 do Liên xô nghiên cứu sản xuất, được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1961 và duy trì cho tới năm 1975. Nó

    nhanh chóng chiếm vị trí của cho T-54 và trở thành loại tăng chủ lực MBT tiêu chuẩn của lực lượng Tăng thiết giáp và Bộ binh cơ giới Liên Xô. Tuy nhiên, vào khoảng thập niên 80, T-62 trở nên lạc hậu và được thay thế bằng thế hệ tăng T-64, T-72, T-80 tiên tiến hơn.








    THÔNG SỐ KỸ THUẬT


    * Tên:T-62

    * Năm sản xuất: 1961-1975 (Liên Xô); 1975-1978 (Tiệp Khắc); 1980 (CHDCND Triều Tiên)
    * Số lượng: >22700 chiếc
    * Tổ lái: 4 người (xa trưởng, lái xe, pháo thủ và người nạp đạn)
    * Nặng 41,5 tấn
    * Dài 6.63m
    * Cao 2.4m
    * Rộng 3.52m
    * Động cơ: Diesel 620 sức ngựa
    * Tầm hoạt động : 450/650km với thùng dầu phụ
    * Tốc độ: 50km/h trên đường nhưạ và 40-45km/h đường gồ ghề
    * Giáp:

    230 mm trước tháp pháo

    153 mm sườn tháp pháo
    97 mm sau tháp pháo
    40 mm đỉnh tháp pháo
    102 mm trước thân
    79 mm sườn xe
    46 mm đuôi xe
    20 mm gầm xe
    31 mm nóc xe

    * Pháo chính : 115mm nòng trơn modle 2A20

    * Tốc độ bắn: 3-5 viên/ phút
    * Nạp đạn: thủ công
    * Nòng dao động từ -5 tới 18 độ
    * 1 đại liên 7,62mm đồng trục
    * 1 đại liên 12,7mm trên đỉnh tháp pháo



    T-54/55


    T-54 và T-55 là tên gọi một thế hệ xe tẵng sản xuất tại Liên Xô và trang bị cho quân đội nước này từ năm 1947 đến 1962. Đây là mẫu xe tăng sản xuất nhiều nhất với tổng số 95.000 xe xuất xưởng (bao gồm cả sản xuất tại nước ngoài với tên gọi khác).


    Cách bố trí của T-54 theo kiểu xe tăng quy ước, với vũ khí chính gồm một khẩu súng có rãnh xoắn 100mm. T54 được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại tăng nào khác từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. T-55 gồm một khẩu súng tốc độ cao với nòng súng dài khác thường. T-55 có bánh xích, chasis năm bánh với một thân ngắn và tháp pháo hình tròn. Tăng T-54 xuất hiện lần đầu năm 1949 như loại thay thế cho chiếc T-34 thời thế chiến II. Nguyên mẫu T-54 đầu tiên được hoàn thành năm 1946 và được chế tạo lần đầu năm 1947. T-54 liên tục được sửa đổi và cải tiến, và sau khi đã được sửa khá nhiều, nó được đổi tên thành T-55. T-55 ra mắt vào năm 1958 và có đầy đủ mọi sự tinh xảo và cải tiến của serie T-54 mà không có khác biệt căn bản trong thiết kế và hay vẻ ngoài. T-55A xuất hiện đầu thập kỷ 1960. Sự sản xuất loại xe này tiếp tục đến tận năm 1981 ở Liên Xô và cũng được sản xuất ở Trung Quốc (kiểu 59), Tiệp Khắc và Ba Lan.


    Một số lượng lớn loại này vẫn còn được sử dụng, mặc dù đến thập kỷ 1980 T-54/55 đã bị thay thế bằng loại T-62, T-64 và T-80 trong vai trò loại tăng chủ yếu tại các đơn vị xe tăng và pháo tự hành của Liên Xô. Được sử dụng trong cuộc xâm chiếm Hungary năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, và Syria năm 1970, nó là loại tăng chính của các nước Ả Rập trong cuộc chiến 1967 và 1973 với Israel. Trong thập kỷ 1970, T-54 tham chiến ở Việt Nam, Cambodia và Uganda.






    Thông số kỹ thuật


    Xuất xứ:Liên Xô.

    Nước sản xuất:Liên Xô,Trung Quốc,một số nước XHCN khác
    Thiết kế:Morozov Design Bureau
    Số lượng sản xuất: 86000-100000
    Nặng: 36,7 tấn
    Dài: 6,5m
    Rộng: 3,37m
    Cao: 2,4m
    Tổ lái: 4 người(xa trưởng, xạ thủ, nạp đạn, lái xe)
    Giáp: 203mm trước tháp pháo
    150mm 2 bên hông tháp pháo
    64mm mặt sau tháp pháo
    39mm đỉnh tháp pháo
    100mm giáp trước
    79mm sườn xe
    46mm đuôi xe
    20mm gầm xe
    Vũ khí: Súng chính 100mm D-10T , 34 viên-45 viên
    1 đại liên 7,62mm đồng trục loại SGMT hoặc PKT
    1 đại liên 7,62mm gắn trước thân xe
    1 đại liên 12,7mm DKSh gắn trên đỉnh tháp pháo
    Động cơ: V-54 Diesel 12 xi-lanh dung tích 38,88 lít làm mát bằng nước
    523 mã lực(T54) 581 mã lực với T55
    Sức kéo: 13,2 mã lực/tấn(T54)
    14,6 mã lực/tấn(T55)
    Tầm hoạt động: 401 km và 600km nếu có thêm thùng nhiên liệu phụ
    Vận tốc: 48km/h với T54 và 55km/h với T55

    TYPE-59


    TYPE 59 (Trung Quốc công nghiệp hiệu: WZ120) Trận Tank chính là một Trung Quốc sản xuất phiên bản của Ubiquitous Xô T-54A. Xe đầu tiên được sản xuất năm 1958 và nó đã được chấp nhận vào dịch vụ vào năm 1959, nối tiếp với sản xuất bắt đầu từ năm 1963. Khoảng 9.500 của bể được sản xuất theo thời gian sản xuất kết thúc vào năm 1980 với khoảng 5500 phục vụ với các lực lượng vũ trang Trung Quốc.


    Các Loại 59 đã được sửa đổi vài lần trong một loạt các dịch vụ với việc thay đổi mm đến 100 mm Loại 59 rifled súng với một 105 mm rifled súng.






    Các thông số kỹ thuật

    Trọng lượng: 36 tấn

    Chiều dài: 6.04 m (hull) [1] 6,04 m (Hull) [1]
    Chiều rộng: 3.27 m [1] 3,27 m [1]
    Chiều cao: 2.59 m [1] 2,59 m [1]
    Tổ lái: 4
    Giáp: 200 mm (thép)
    Vũ khí: Súng chính 100mm
    1 đại liên 7,62mm đồng trục loại SGMT hoặc PKT
    1 đại liên 7,62mm gắn trước thân xe
    1 đại liên 12,7mm DKSh gắn trên đỉnh tháp pháo
    Động cơ: diesel 12150L làm mát bằng nước, 520 hp (390 kW)
    Phạm vi hoạt động: 450 km đến 600 km nếu có thêm thùng nhiên liệu phụ
    Tốc độ: 50 km/h


    T-72


    T-72 là xe tăng chiến đấu chủ lực của Liên Xô, được sản xuất vào năm 1971 và ra mắt vào năm 1977. T-72 được phát triển từ T-64, nhưng không phải đơn thuần là một mẫu cải tiến mà là một kiểu mới hoàn toàn và vượt trội so với người tiền nhiệm của mình. T-72 nhanh chóng trở thành xe tăng chủ lực trong quân đội Liên Xô những năm 1970 và là niềm tự hào cuả Bộ đội tăng thiết giáp Xô Viết : ngay lúc nó ra đời, những mẫu tăng cùng thời như M60A3 Patton và Leopard I trở thành “đồ bỏ”. Tuy nhiên, thời gian “tại vị” của nó không dài: ngay từ thập niên 1980 trở đi nó đã trở nên lạc hậu so với các loại như T-80U, M1 Abrams, Leopard II, Challenger... Trong chiến tranh vùng Vịnh, lực lượng T-72 đông đảo của Irak (hơn 1000 chiếc) đã bị xe tăng M1A2 và trực thăng Apache của Mĩ đánh tơi tả (mặc dù có ý kiến cho rằng nguyên do chủ yếu là sự yếu kém của binh lính Irak và các mẫu T-72 của Irak là các mẫu xuất khẩu kém chất lượng).


    Mặc dù vậy, T-72 vẫn còn được sử dụng tương đối rộng rãi ở nhiều quốc gia, thậm chí vẫn được xem là đối thủ đáng gờm của các xe tăng hiện đại. Bản thân nước Nga vẫn đang sử dụng 300 xe tăng T-72, tất nhiên là bản nâng cấp, trong quân đội của mình.


    T-72 tham gia rất nhiều cuộc chiến tranh ở châu Âu và trên thế giới như: Chiến tranh Chechen 1 và 2, Chiến tranh Kosovo, chiến tranh Vùng Vịnh.









    Thông số kỹ thuật

    * Loại: Xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT)
    * Nước SX chính: Liên Xô và Nga
    * Nặng:

    41 tấn với T-72

    41,5 tấn với T-72M
    49,1 tấn với T-72B
    44,5 tấn với T-72S

    * Dài:6,9m

    * Rộng:3,6m
    * Cao: 2,2m
    * Tổ lái: 3 người
    * Giáp: Composite thế hệ 3, bao gồm thép tôi, vonfram, plastic và gốm
    * Vũ khí:
    * Súng chính:

    125mm loại 2A46M nòng trơn

    T-72B có thể bắn tên lưả chống tăng AT-11 Svir qua nòng pháo
    1 đại liên 12,7mm trên tháp pháo loại NSV hay DKSh
    1 đại liên đồng trục 7,62mm

    * Động cơ :


    V-46-6 12-cylinder diesel 780 mã lực với T-72 "Ural"

    V-84 12-cylinder diesel 840 mã lực làm mát bằng không khí với T-72B and T-72S
    V-92S2 12-cylinder diesel 1000 mã lực với T-72BM

    * Sức kéo: 19,1 mã lực/tấn với T-72, 20,5 mã lực/tấn với T-72B, 24,9 mã lực/tấn với T-72BM

    * Tầm hoạt động: 450km tới 460km, 600km tới 900km với bình dầu phụ tuỳ theo phiên bản
    * Tốc độ: 60km/h trên đường nhưạ và 45km/h trên đường gồ ghề

    Lưu ý
    : Việt Nam mới đặt mua của Ba Lan 150 chiếc này, nên T-72 hiện vẫn chưa có mặt trên lãnh thổ Việt Nam. Post vào chỉ mang tính chất tham khảo.

    XE TĂNG LỘI NƯỚC


    PT-76

    PT-76, viết tắt của (Плавающий Танк/Plavajuschij Tank ) (tiếng Nga) là kí hiệu loại xe tăng đổ bộ của quân đội Xô Viết nặng khoảng 14 tấn. Xe tăng PT-76 được giới thiệu lần đầu tiên vào đầu thập niên 1950, và sớm trở thành mẫu xe tăng trinh sát tiêu chuẩn cuả quân đội Xô Viết và những lực lượng quân sự thuộc khối Hiệp ước Warszawa. PT-76 cũng được xuất khẩu rộng rãi đến các nước đồng minh khác cuả Liên Xô như Bắc Việt Nam, Iraq, Bắc Triều Tiên và Cuba. Có hơn 25 nước sử dụng PT-76.

    Được phát triển trong những năm 49-54, PT-76 sau này còn có thế hệ 2 là PT-76B ra đời năm 58. Cả hai đều có biên chế 3 người, hỏa lực chính gồm pháo 76.2 mm, súng máy 7,6 mm. Ngoài ra có thể thêm súng máy 12,7 mm.


    PT-76 có ưu điểm lội nước tốt nhưng vỏ mỏng (để duy trì khả năng lội-trọng lượng 14 tấn rất nhẹ so với các loại xe tăng khác của Nga đều trên 40 tấn), súng máy hạng nặng có thể xuyên thủng. Hỏa lực yếu, không có pháo thủ chuyên biệt mà phải kiêm nhiệm.


    Trong chiến tranh Việt Nam, tại trận Làng Vây, trong số 12 chiếc PT-76 quân miền Bắc sử dụng đã có tới 5 chiếc bị Quân lực Việt Nam Cộng hòa bắn cháy ngay tại chỗ.





    Thông số kỹ thuật

    Loại: Xe tăng lội nước hạng nhẹ

    Nước Sản xuất:Liên Xô
    Nặng: 14 tấn với PT-76
    15,4 tấn với PT-76B
    Chiều dài(ko tính súng chính): 6,91m
    Cao: 2,26 m
    Rộng: 3,15m
    Tổ lái: 3 người
    Giáp trước : dày nhất 14mm
    Giáp tháp pháo:dày nhất 20mm, mỏng nhất 17mm
    Vũ khí: SÚng chính 76mm D-56T 40 viên
    1 súng máy đồng trục 7,62mm loại SGMT hoặc PKT
    Động cơ: V-6B Diesel 240 mã lực
    Tầm hoạt động: 260 km trên cạn và 60 km dưới nước
    Tốc độ: 44 km/h trên cạn và 10,2 km/h dưới nước


    PT-85


    Ngoài PT-76 quân đội nhân dân Việt Nam còn dùng các xe tăng lội nước sau: Type-63, do Trung quốc chế tạo . Tuy nhiên Việt Nam thường gọi chung loại này là PT-85.


    Xe tăng lội nước Type 63 là loại xe tăng lội nước hạng nhẹ được Trung Quốc chế tạo dưạ theo y nguyên bản PT-76 cuả Liên Xô, chỉ khác là Type 63 được gắn tháp pháo cuả Type 62 hình vòm, có 1 lỗ thông hơi được gắn ống thở . Súng chính được thay thế bằng pháp 85mm có thể bắn đạn AP, APHE, HE, và HEAT thay cho loại 76mm cuả PT-76, Type 63 còn được trang bị thêm 1 đại liên 12,7mm trên đỉnh tháp pháo.Tổ lái nâng lên 4 người và động cơ 12150L2 Diesel 400 mã lực cuả nó nâng tốc độ tối đa trên cạn lên tới 64km/h.Type 63 được TQ cung cấp cho Quân đội NDVN trong kháng chiến chống Mỹ, có tham gia các trận đánh kèm với PT-76, hiện nay được sử dụng trong 1 số đơn vị tăng thiết giáp và Hải quân đánh bộ. Type 63 vẫn còn được Quân đội Trung QUốc sử dụng trong các đơn vị Thuỷ quân lục chiến nhưng với phiên bản Type 63A.


    PT-85 được sản xuất dựa theo mẫu của PT-76 nhưng được thay tháp pháo tương tự như xe tăng T-54, T-59 với nòng pháo cỡ 85 mm. Trong giai đoạn chiến tranh biên giới Tây Nam với Polpot ta thu được nhiều xe PT-85 (Type-63) của Trung Quốc cung cấp cho Khmer đỏ, sau đó trang bị lại cho quân giài phóng Campuchia.










    THÔNG SỐ KỸ THUẬT

    Loại:Xe tăng lội nước hạng nhẹ

    Nước sản xuất: Trung Quốc
    Nặng: 18.4 tấn
    Dài 7.288 m
    Bề ngang: 3.2 m
    Cao: 2.522 m
    Tổ lái:4 người
    Vũ khí: Súng chính 85mm( 105mm với Type 63A)
    1 đại liên đồng trục 7,62mm
    1 đại liên 12,7mm gắn trên đỉnh tháp pháo
    Động cơ: 12150L2 diesel
    400 mã lực
    Tầm hoạt động: 370km
    Vận tốc: 64km/h trên cạn
    12km/h dưới nước


    THIẾT GIÁP CHIẾN ĐẤU



    BMP-1


    Bronevaya Maschina Piekhota (BMP-1) được sản xuất lần đầu vaò đầu những năm 1960 và ra mắt vào năm 1967 tại cuộc duyệt binh trên Quảng trường Đỏ.


    BMP-1 đánh dấu 1 sự thay đổi quan trọng từ khái niệm xe bọc thép (Armored Personnel Carrier) thành Xe chiến đấu bộ binh(chiến xa bộ binh) , phối hợp giưã tính cơ động cao, vũ khí chống tăng hiệu quả và giáp bảo vệ nhằm mục

    đích vận chuyển bộ binh.BMP-1 có kích thước nhỏ hơn đáng kể so với các loại xe bọc thép(APC) cuả phương Tây nhưng trang bị hoả lực lại mạnh hơn. BMP-1 được cách tân cho phép lính bộ binh có thể bắn bằng vũ khí cá nhân cuả họ từ bên trong xe tăng qua các lỗ châu mai , điều này sẽ giúp họ có thể chiến đấu từ bên trong xe với giáp bảo vệ an toàn.Để làm được điều này, các lỗ châu mai và kính tiềm vọng đều được thiết kế cho từng binh sĩ trong xe. BMP-1 trở thành Chiến xa bộ binh đầu tiên trên thế giới, nó có thể chở theo bộ binh từ 3 đến 8 người.BMP-1 thay thế các xe thiết giáp BTR-50P và bổ sung cho các xe thiết giáp BTR-60PB trong những đơn vị bộ binh cơ giới chủ lực.







    THÔNG SỐ KỸ THUẬT

    Loại: Xe chiến đấu bộ binh

    Nước SX: Liên Xô
    Nặng 13.5 tấn
    14.7 tấn với BMP-1P[1]
    Dài: 6.74m
    Rộng: 2.94 m
    Cao: 2.15 m
    Tổ lái: 3 (Xa trưởng, lái xe, xạ thủ) (+8 lính bộ binh)
    Giáp: Dày nhất 19mm ở thân xe và 23-40mm ở tháp pháo
    Vũ khí:Súng chính73 mm 2A28 Grom nòng trơn (40 viên)
    Đại liên đồng trục 7,62mm
    Tên lưả chống tăng 9M14 Malyutka (AT-3 Sagger) BMP-1
    9M111 Fagot (AT-4 Spigot) , 9M111-2 Fagot (AT-4B Spigot B) ,9M113 Konkurs (AT-5 Spandrel) tuỳ theo phiên bản
    Động cơ: UTD-20 6-xilanh diesel làm mát bằng nước
    290-300 mã lực
    TỐc độ: 65-70km/h trên đường nhưạ
    45km/h trên đường gồ ghề
    7km/h dưới nước


    BMP-2


    Tháp pháo mới 2 người được thay thế cho tháp pháo 1 người cuả BMP-1, súng chính 30mm nòng dài, nhỏ , tốc độ cao có thể dùng để chống lại máy bay, trực thăng và bộ binh, bệ phóng tên lưả chống tăng gắn trên tháp pháo có thể lắp các loại tên lưả chống tăng như AT-4 SPIGOT hoặc AT-5 SPANDREL. Với tháp pháo được thiết kế rộng hơn, số lượng cưả quan sát cho lính bộ binh giảm xuống còn 2 cưả thay vì 4 cưả ở BMP-1, và số lính bộ binh chở theo giảm đi 1 người( còn 7 người). Mỗi bên sườn xe ở vị trí khoang chở lính có 3 lỗ châu mai và tiềm vọng kính.


    BMP-2 có khả năng lội nước như BMP-1, xích cuả nó được cải tiến so với BMP-1 để tăng khả năng nổi trên mặt nước. BMP-2 có thể trang bị giáp nổ cảm ứng ERA nhưng ERA lại gây nguy hiểm cho bộ binh tùng thiết nên giáp bảo vệ thụ động thích hợp hơn còn ERA thì ko được tin cậy, hơn nưã khi lội nước mà gắn thêm giáp thì ko phù hợp.BMP-2 có thêm 1 số cải tiến về bộ phận điều hoà ko khí và động cơ mạnh hơn BMP-1. Tháp pháo được thiết kế rộng hơn và có 2 cưả quan sát cho 2 người, như vậy sẽ có 1 người điều khiển súng chính 30mm loại 2A72 và 1 người sử dụng tên lưả chống tăng, tránh được việc 1 người làm 2 việc cùng lúc. Bệ phóng tên lưả chống tăng Kornet được trang bị thiết bị ngắm hồng ngoại, gồm 1 tên lưả trên bệ phóng và 4 tên lưả dự trữ, cơ chế nạp đạn bằng tay. Loaị tên lưả sử dụng có thể là AT-4, AT-4B hoặc AT-5,AT-5B, ngoài ra BMP-2 có thể sử dụng các loại tên lưả Milan, Milan-2,Milan-3. Thiết bị định hình mục tiêu cho tên lưả bằng hồng ngoại loại Trakt/1PN65 cuả Nga được trang bị cho BMP-2 có tầm định vị khoảng 2500m. Loại Mulat/1PN86 cuả Nga có thể đạt tới 3600m.








    THÔNG SỐ KỸ THUẬT


    Loại: Xe chiến đấu bộ binh

    Nước sản xuất: Liên Xô
    Nặng: 14.3 tonnes
    Dài: 6.72 m
    Rộng: 3.15 m
    Cao: 2.45 m
    Tổ lái: 3 người + 7 lính bộ binh
    Giáp: Dày nhất 33mm
    Vũ khí: Súng chính 30mm loại 2A42
    Tên lưả chống tăng AT-4 hoặc AT-5
    1 đại liên đồng trục 7,62mm
    Động cơ: UTD-20/3 Diesel 300 mã lực
    Tầm hoạt động: 600km
    Vận tốc: 65km/h trên đường nhưạ
    45km/h trên đường gồ ghề


    THIẾT GIÁP TRINH SÁT



    BRDM-1


    Các BRDM-1 (Boyevaya Razvedyvatelnaya Dozornaya Mashina, Боевая Разведывательная Дозорная Машина, nghĩa đen "Combat reconnaissance / tuần tra các phương tiện giao thông") xe được sử dụng bởi Nga và các cựu Liên Xô. Nó đã được ban đầu được biết đến như là một cách đơn giản BRDM nhưng khi BRDM-2 nhập vào sản xuất và dịch vụ với quân Xô viết năm 1962, lần đầu tiên xuất hiện trong 1957, và đã được sản xuất cho đến khi 1966. Tổng cộng sản xuất được khoảng 10.000 xe, ít hơn 600 vẫn còn trong trữ của một số quốc gia.










    thông số kỹ thuật

    Trọng lượng: 5.63 tonnes 5,63 tấn

    Chiều dài: 5.7 meters 5,7 m
    Chiều rộng: 2.25 meters 2,25 mét
    Chiều cao : 2.9 meters 2,9 m
    Tổ lái: 3
    Giáp Hàn thép 10 mm tối đa

    Vũ khí:

    7,62 mm SGMB trung súng máy trên mặt trước pintel núi (BRDM-1 obr. 1959 và BRDM-1 obr. 1960)
    12,7 mm DShK 1938/46 nặng hoặc súng máy 14,5 mm KPV súng máy nặng (Late BRDM-1)
    2 x 7.62 mm SGMB medium machine guns on the side pintel mounts (optional) {BRDM-1 obr. 2 x 7,62 mm SGMB trung súng máy trên bên pintel gắn kết (tùy chọn) (BRDM-1 obr. 1960)
    3 x 7,62 mm SGMB máy móc, phương tiện gắn kết súng trên pintel (hai tùy chọn) (Late BRDM-1)
    Động cơ: Gaz 40PB-6-cylinder trong dòng động cơ xăng 90 hp (70 kW) 3400rpm.
    Phạm vi hoạt đông: 750 km (đường bộ) 120 km (nước)
    Tốc độ: 90 km / h (đường) 9 km / h (nước)



    BPDM-2


    Xe thiết giáp trinh sát BRDM-2 được Liên Xô chế tạo để đáp ứng nhu cầu cải thiện hỏa lực mạnh cho các xe thiết giáp trinh sat1 lội nước. BRDM-2 được cải tiến so với BRDM-1 bằng động cơ mạnh hơn và lắp đặt sau xe, gắn thêm 1 tháp pháo loại cuả BTR-60 có trang bị 1 súng phòng không 14,5mm KPV.BRDM-2 ra mắt vào năm 1966 và được các nước trong hiệp ước Warsaw sử dụng thay thế loại BRDM-1 cũ, nó có khả năng lội nước bằng ống đẩy thuỷ lực đặt sau đuôi xe.


    Giáp cuả BRDM-2 chỗ dày nhất 14mm rất dễ bị tổn thương bởi mảnh pháo hay đạn 12,7mm. Lốp xe ko có giáp bảo vệ nên rất dễ bị chọc thủng bời đạn cuả đối phương.BRDM-2 cũng tương tự như BRDM-1 cũng có 2 bánh xe nhỏ dưới bụng hỗ trợ khi vượt qua đồi núi, có bộ phận giảm xóc ở lốp xe.Thân xe cuả BRDM-2 lớn hơn và khoang động cơ lớn hơn BRDM-1 đặt ở sau xe.BRDM-2 còn được gắn đèn hồng ngoại nhìn đêm và hệ thống bảo vệ NBC.






    THÔNG SỐ KỸ THUẬT

    Loại: Xe thiết giáp trinh sát

    Nước SX: Liên XÔ
    Nặng: 7 tấn
    Dài: 5.75 m
    Rộng: 2.35 m
    Cao: 2.31 m
    Tổ lái: 4 người (driver, co-driver, commander, gunner)
    Giáp: 14 mm
    Vũ khí: Súng phòng không 14.5mm KPVT
    Súng máy 7.62mm PKT
    Động cơ: GAZ-41 khí đốt 140 mã lực (104 kW)
    Tầm hoạt động: 750 km
    Tốc độ: 95 km/h

    THIẾT GIÁP CHỞ QUÂN



    M-113


    Thiết giáp chở quân (APC – Armored Personel Carrier) hay còn gọi là thiết vận xa M-113 là loại xe APC phổ biến nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đaị. Được sản xuất vào cuối thập niên 50, vào thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh, với hơn 28.000 chiếc được sản xuất với 12 phiên bản khác nhau nhưng chủ yếu là các phiên bản M-113A1, M-113A2, M-113A3. Hiện nay M-113 còn phục vụ trên 50 quốc gia, trong đó có Việt Nam.








    BTR-40


    Xe thiết giáp BTR-40 là loại xe thiết giáp chở lính và trinh sát cuả quân đội Liên Xô, phát triển bởi V. A. Dedkov, được thiết kế dưạ trên mẫu BTR-141 trong thế chiến thứ 2 và được sản xuất tại hãng Gorkovsky Avtomobilny Zavod từ 1950 tới 1958. Xe có 2 cưả hông dành cho xa trưởng và lái xe và 1 cưả sau ở đuôi khoang chở lính có thể chở 8 binh sĩ. BTR-40 được sử dụng làm xe thiết giáp chở lính, trinh sát, tuần tra và công tác chỉ huy. Nó ko có hệ thống bảo vệ NBC và thiết bị nhìn đêm. Việt Nam sử dụng lạoi BTR-40A, có vũ trang 1 súng phòng không KPV 14,5mm nòng đôi và được sử dụng như xe phòng không. Việt Nam cũng cải tiến BTR-40 thành xe phóng từ để phá bom từ trường trong chiến tranh chống Mỹ. Hiện nay BTR-40 đã hầu như không còn phục vụ trong lực lượng thiết giáp Việt Nam.







    Thông số kỹ thuật

    Loại: Xe thiết giáp sử dụng bánh hơi

    Nước SX: Liên Xô
    Nặng: 5.3 tấn
    Dài: 5 m
    Rộng: 1.9 m
    Cao: 1.83 m
    Tổ lái: 2 người + 8 lính
    Giáp: 6-8 mm
    Vũ khí: 3 súng máy 7.62 mm
    Động cơ: GAZ-40
    78 mã lực (58 kW)
    Tầm hoạt động: 285 km
    TỐc độ: 80 km/h



    BTR-152


    Xe thiết giáp BTR-152 là loại xe thiết giáp chở quân chạy bằng bánh cuả Liên Xô được sản xuất vaò những năm 1950.Cấu trúc thân xe là cấu trúc hàn, động cơ và bộ phận điểu khiển vận hành đặt ở trước xe.Tổ lái gồm Laí xe, phụ lái và có khoang chở 17 lính ở sau xe.Xe chạy bằng 6 bánh cao su,lốp xe có bộ phận giảm xóc để giúp tổ lái ko bị mệt moỉ khi chạy trên điạ hình xấu, vũ khí chính là 1 súng máy 7,62mm nhưng tuỳ theo phiên bản, nó còn được trang bị súng phòng không 14,5mm và 23mm.Mẫu BTR-152 V3 được trang bị cả đèn hồng ngoại nhìn đêm . Xe có các cưả quan sát giúp cho binh lính có thể chiên đấu từ trong xe.BTR-152 chấm dứt sản xuất vào năm 1960 và sau đó được thay thế bằng BTR-60 nhưng nó vẫn được nhiều nước trên thế giới sử dụng trong đó có Việt Nam.







    Thông số kỹ thuật


    Loại:Xe thiết giáp sử dụng bánh hơi

    Nước SX: Liên Xô
    Nặng: 9.91 tấn
    Dài: 6.83 m
    Rộng: 2.32 m
    Cao: 2.36 m
    Tổ lái 2 người (+17 lính)
    Giáp: 4–15 mm
    Vũ khí: 2 Súng máy 7.62mm hoặc 1 súng máy 12.7mm +1 súng 7,62mm
    Động cơ: ZIS-123 6 cylinder Xăng làm mát bằng nước 110 mã lực
    Tầm hoạt động: 650 km
    Tốc độ: 65 km/h



    BTR-60


    Xe thiết giáp BTR-60 là mẫu thiết giáp chạy bằng 8 bánh đầu tiên cuả Liên Xô, được phát triển vào cuối những năm 1950 để thay thế xe thiết giáp BTR-152 và được ra mắt vaò năm 1961.Nó liên tục được cải tiến và mẫu cải tiến cuối cùng là BTR-60PB, sau cùng được thay thế bởi mẫu BTR-70. Về số lượng thì BTR-60 là xe thiết giáp có vai trò quan trọng nhất trong quân đội Liên Xô.BTR-60 được xuất khẩu với số lượng lớn sang các nước Đông Đức, Bulgaria và Romania. BTR-60 là loại xe thiết giáp chủ lực cuả lự clượng Hải quân đánh bộ Liên Xô.






    THÔNG SỐ KỸ THUẬT

    Loại: Xe thiết giáp chạy bằng bánh hơi

    Nước SX: Liên Xô
    Nặng: 10.1 tấn (BTR-60P)
    11.1 tấn (BTR-60PA)
    11.4 tấn (BTR-60PB)
    Dài: 7.56 m
    Rộng: 2.825 m
    Cao: 2.06 m
    2.31 m (BTR-60PAI, BTR-60PB, BTR-60PBK và BTR-60PZ)
    Tổ lái: 2 + 16 lính (BTR-60P)
    2 + 14 lính (BTR-60PA)
    3 + 14 lính (BTR-60PAI , BTR-60PB và BTR-60PZ)
    Giáp: Dày nhất 9mm ở thân xe
    7mm ở tháp pháo
    Vũ khí: 1 đại liên 12,7mm hoặc 14,5mm trên tháp pháo+ 2 súng 7,62mm
    Động cơ: 2 động cơ-cyl. khí đốt GAZ-49 từ 94 mã lực đến 115 mã lực tuỳ phiên bản
    Tầm hoạt động: 500km
    Tốc độ:80km/h trên cạn
    10km/h dưới nước



    Xem Thêm :







  2. The Following 4 Users Say Thank You to Lonelyplanet For This Useful Post:


  3. #2
    markhieu's Avatar
    markhieu is offline SMOD
    Tham gia ngày
    May 2008
    Đến từ
    Tp Rạch Giá thân yêu
    Bài gởi
    4,526
    Thanks
    3,714
    Thanked 7,920 Times in 2,520 Posts
    Được 4 chiếc đầu tiên nòng dài nhìn khá tốt! Mấy chiếc còn lại nhìn cùi cùi sao ấy nhỉ






  4. Những thành viên đã Thanks markhieu:


  5. #3
    Lonelyplanet's Avatar
    Lonelyplanet is offline Thành Viên Chăm Chỉ
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Bài gởi
    264
    Thanks
    123
    Thanked 434 Times in 168 Posts
    Nước mình còn nghèo mà bạn.






Chủ đề giống nhau

  1. 3 công cụ để tăng và cải thiện hiệu suất của Firefox
    By TTND Posters in forum Internet & Bảo Mật
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 18-11-2011, 10:38 AM
  2. Chế thiết bị tăng lag khi chơi game, tại sao không?
    By TTND Posters in forum Internet & Bảo Mật
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 25-10-2011, 03:01 PM
  3. [Direct Link] TCP Optimizer 3.0.4 - Thiết lập tối ưu và tăng tốc đường truyền Internet
    By TTND Posters in forum Internet & Network Tools
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 15-09-2010, 12:16 PM
  4. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 07-09-2009, 08:27 PM
  5. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 02-05-2009, 09:18 AM
Liên hệ quảng cáo
Popup, Banner v.v...
Phone : 0933 26 7749
Yahoo : luan7749
[Xem chi tiết]



Xem phim online - Phim chiếu rạp - Phim truyền hình - Phim bộ - Phim hành động - Phim tình cảm - Phim tâm lý - Phim 18+ pes 13 Full Download

FIFA Soccer 13 Full Download

Prototype 2 Full PC Game

Darksiders 2 Full PC Game

DIABLO 3 Full Download

Battlefield 3

PES 2012

StarCraft 2 Wings Of Liberty Full Crack (27/7)



Khuyến cáo

IDM Download IDM 6.xx
Best Downloader

Firefox Download Mozilla Firefox
Best Browser

Chrome Download Google Chrome
Google Browser

Gome Player Download Gom Player
Multimedia Player

K-Lite Codec Download K-Lite Codec Pack
Free Codec Pack

Yahoo Download Yahoo Messenger
Chatting Tool

Deepfreeze Download Deepfreeze 7
Protect your System

Lingoes Download Lingoes 2.7.1
Free Dictionary


Premium Textlinks : phong thuy | phong thuy | laptop giá rẻ | Tu Bep

| Tui Xach | may det may keo soi | sim so dep | Talaha.vn Giay dep thoi trang

This site doesn't host any files. All posts and articles on this site are created by its visitors and express their own opinion.